Kết quả công tác tham gia xây dựng chính sách pháp luật, rà soát văn bản quy phạm pháp luật 6 tháng đầu năm 2020 của Hội Luật gia tỉnh Quảng Bình 
 Thực hiện Công văn số: 66-CV/HLGVN ngày 13/03/2020 của Hội Luật gia Việt Nam về việc đẩy mạnh công tác tham gia xây dựng chính sách, pháp luật năm 2020 và Công văn số: 1202/TCT ngày 01/4/2020 Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về rà soát văn bản quy phạm pháp luật, Thường trực Hội Luật gia tỉnh Quảng Bình trên cơ sở Công văn số 38/HLGQB ngày 14/4/2020 gửi các Huyện, Thành, Thị hội, Chi hội trực thuộc để lấy ý kiến và tổng hợp ý kiến với kết quả như sau:
 

I. ĐỐI VỚI CÁC DỰ THẢO ĐƯỢC THÔNG QUA VÀ CHO Ý KIẾN TẠI KỲ HỌP THỨ 9 - QUỐC HỘI KHÓA XIV.

          Đa số ý kiến đều cơ bản thống nhất với các nội dung của các bản dự thảo văn bản pháp luật được Quốc hội khóa XIV thông qua và cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9, trong đó có trên 35% ý kiến tham gia đề nghị chỉnh sửa, tập trung vào các nội dung sau:

1. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính

          a) Tại điểm 35 về sa đổi, bổ sung Điều 58 quy định Biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn không quá 24 giờ... Trường hợp vụ việc phức tạp, thì biên bản vi phạm hành chính được lập trong thời hạn không quá 48 giờ, kể từ khi phát hiện vi phạm hành chính. Trường hp phải xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, k từ ngày nhận được kết quả xác định giá trị tang vật, phương tiện, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, xét nghiệm” .

Tuy nhiên dự thảo chưa quy định khi chưa lập biên bản vi phạm hành chính thì trình tự, thủ tục thu giữ mẫu gửi giám định như thế nào là hp pháp. Công tác tạm giữ tang vật, phương tiện được thực hiện như thế nào để không bị đối tượng vi phạm tẩu tán, tiêu hủy gây khó khăn cho công tác xác định vi phạm hành chính. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung để tạo điều kiện cho quá trình thực hiện.

b) Đề nghị bổ sung vào khoản 2 Điều 86 biện pháp Không làm thủ tục kiểm định an toàn kỹ thuật phương tiện, không cấp lại Giấy phép lái xe, không cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký” đối với các trường hp vi phạm hành chính đã bị tạm giữ các loại giấy tờ trên nhưng người vi phạm không chấp hành Quyết định xử phạt, để các cơ quan chức năng làm căn cứ thực hiện.

          - Hiện nay, các loại phương tiện trong diện bị tịch thu gồm:

          + Phương tiện hết niên hạn sử dụng;

          + Phương tiện quá thời hạn tạm giữ nhưng người vi phạm không đến nhận và không có lý do chính đáng;

          + Phương tiện không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc;

          + Phương tiện bị đục lại số máy, số khung.

Tuy nhiên Khoản 4 Điều 126 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 và

dự thảo Luật sa đổi, bổ sung Luật Xử lý vi phạm hành chính chỉ quy định tịch thu các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã quá thời hạn tạm giữ nhưng người vi phạm, chủ sỡ hữu, người quản lý hoặc sử dụng hợp pháp không đến nhận mà không có lý do chính đáng.

Do đó, đề nghị bổ sung các trường hợp tịch thu phương tiện vi phạm hành chính đối với các phưong tiện không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc (phương tiện nhập lậu), phương tiện bị đục lại số máy, số khung; trình tự, thủ tục tịch thu... Những lý do nào mà người vi phạm không đến nhận thì được xem là lý do chính đáng. Trường hợp quá thời hạn tạm giữ nhưng người vi phạm không đến nhận mà có lý do chính đáng thì giải quyết như thế nào.

c) Đề nghị bổ sung thêm khoản, trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật xử lý vi phạm hành chính để giải thích rõ đối với các hành vi vi phạm hành chính như: “ít nghiêm trọng”, “nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”; vụ việc “có tình tiết phức tạp”, “hành vi vi phạm đã kết thúc”, “hành vi vi phạm đang thực hiện” để cơ quan có thẩm quyền xử phạt có thể áp dụng chính xác trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, đặc biệt là trong việc xác định thời hiệu, thời hạn xử phạt.

d) Nên sửa đổi thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã tại khoản 1 Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng tăng mức phạt tiền lên đến 10.000.000 đồng đối với cá nhân và 20.000.000 đồng đối với tổ chức. Bởi vì, hiện nay đời sống kinh tế, xã hội của người dân ngày càng được nâng cao; các hành vi vi phạm hành chính theo từng lĩnh vực có mức xử phạt tương đối cao, nếu áp dụng mức phạt là 5.000.000 đồng đối với cá nhân và 10.000.000 đồng đối với tổ chức như hiện nay là quá thấp, dẫn đến các hành vi vi phạm tại cấp xã nhưng phải chuyển lên cấp trên xử phạt. Mặt khác tăng mức xử phạt để có tính răn đe, hạn chế hành vi vi phạm hành chính của tổ chức và cá nhân.

e) Về lập biên bản VPHC tại Khoản 1 Điều 58 quy định: “Trường hợp VPHC được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì việc lập biên bản VPHC được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm”; trong trường hợp tổ chức, cá nhân VPHC trong lĩnh vực môi trường, muốn phát hiện được thì phải qua công tác phân tích, đánh giá của cơ quan có thẩm quyền, thì việc lập biên bản VPHC chưa được xác định tại trụ sở của cơ quan có thẩm quyền xử phạt hay là trụ sở của tổ chức và cá nhân vi phạm.

f) Về thời gian tạm giữ tang vật tại Khoản 3 Điều 60 quy định: “Thời hạn tạm giữ tang vật để xác định giá trị không quá 24 giờ, kể từ thời điểm ra quyết định tạm giữ, trong trường hợp thật cần thiết thì thời hạn có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 24 giờ”. Như vậy, thời gian tạm giữ tang vật để xác định giá trị tối đa không quá 48 tiếng chưa phù hợp với thực tế vì thời gian tạm giữ là quá ngắn, do phải thành lập Hội đồng định giá, nhất là những vụ vi phạm mà tang vật là hàng hóa nhập lậu, nhiều chủng loại thì thời gian không đủ để định giá theo quy định.

g) Khoản 1 Điều 66 Luật Xử lý VPHC quy định “Người có thẩm quyền xử phạt VPHC phải ra quyết định xử phạt VPHC trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản VPHC”. Quy định này được hiểu là trong thời hạn 07 ngày (bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ) kể từ ngày lập biên bản người có thẩm quyền phải ra quyết định xử phạt VPHC. Tuy nhiên có một số trường hợp biên bản VPHC do cấp xã thực hiện, nhưng hành vi đó lại thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc cấp tỉnh, trong trường hợp này người lập biên bản phải hoàn chỉnh, chuyển tất cả hồ sơ liên quan cho người có thẩm quyền ra quyết định. Đối với những xã có điều kiện đi lại khó khăn, việc gửi hồ sơ phải mất nhiều thời gian, khi đó người ra quyết định xử phạt sẽ gặp khó khăn trong việc đảm bảo về mặt thời gian.

h) Tại Điều 70 Luật Xử lý VPHC quy định: “Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định xử phạt VPHC có lập biên bản, người có thẩm quyền đã ra quyết định xử phạt phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt và cơ quan liên quan khác (nếu có) để thi hành”. Quy định này là quá ngắn, khó thực hiện nhất là đối với các cơ quan có số lượng quyết định xử phạt vi phạm hành chính ban hành hàng ngày nhiều hoặc vụ việc có tính chất phức tạp và ở các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn.

i) Tại Khoản 3, Khoản 5 Điều 90 quy định đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Khoản 4, Điều 92 quy định đối tượng bị đưa vào trường giáo dưỡng; Khoản 1, Điều 94 quy định đối tượng bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc: “Vi phạm trật tự an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự”. Thực tế cho thấy điều kiện áp dụng là rất khó thực hiện vì thời gian của 02 lần vi phạm trở lên trong 06 tháng quá ngắn, rất khó để có đối tượng để áp dụng biện pháp này.

k) Tại Khoản 1, Điều 122 quy định việc tạm giữ người chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Tuy nhiên, thực tế ở khu vực biên giới xảy ra nhiều trường hợp người VPHC có nhân thân lai lịch không rõ ràng, cần có thời gian để xác minh nhân thân, có tái phạm hay không tái phạm… thì việc quản lý người vi phạm để đảm bảo cho việc XLVPHC gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với trường hợp không có giấy tờ, phương tiện, tài sản đảm bảo cho việc thi hành quyết định xử phạt VPHC.

l) Tại Điều 125 Luật Xử lý VPHC quy định về tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, thủ tục hành nghề theo thủ tục hành chính. Việc quy định này không bao gồm (giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, chứng minh thư nhân dân, thẻ căn cước), bên cạnh đó các hình thức xử phạt bổ sung của các nghị định như Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo; Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày 20/3/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 131/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan và Nghị định số 158/2013/NĐ-CP lại không quy định các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính được quyền tạm giữ tang vật, phương tiện VPHC trong quá trình thi hành nhiệm vụ. Thực trạng này đã gây không ít khó khăn, đặc biệt là cơ quan thanh tra chuyên ngành trong việc đảm bảo việc chấp hành các quyết định xử phạt VPHC.

m) Tại Khoản 5, Điều 125 Luật Xử lý VPHC quy định việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính thì: Việc tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản kèm theo biên bản tạm giữ và phải giao cho người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm 01 bản. Trong trường hợp vi phạm xảy ra ở xa trụ sở của người có thẩm quyền ra Quyết định tạm giữ thì việc thực hiện quy định này mất rất nhiều thời gian, gây khó khăn trong quá trình thực hiện cho lực lượng chức năng cũng như người vi phạm. Đặc biệt đối với các trường hợp phương tiện vận chuyển hàng hóa trong điều kiện khó bảo quản; người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện đó. Trong trường hợp tang vật, phương tiện bị mất, bán, đánh tráo hoặc hư hỏng, mất linh kiện, thay thế thì người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Hiện nay, nhiều đơn vị chưa được bố trí bến, bãi, nhân lực để tạm giữ phương tiện giao thông vi phạm nên khó khăn trong việc tổ chức để thực hiện.

Về vấn đề quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, tại Khoản 2, Điều 131 Luật XLVPHC quy định “… trường hợp không có nơi cư trú ổn định thì giao cho tổ chức xã hội quản lý”, tuy nhiên, hiện nay thực tế rất khó khăn trong quá trình thực hiện.

2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

a) Về ý kiến đối với việc thẩm quyền ban hành văn bản QPPL tại điều 30 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 quy định: “HĐND cấp huyện, cấp xã ban hành nghị quyết, UBND cấp huyện, cấp xã ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao” qua thời gian triển khai thi hành Luật, thực tế quy định trên không phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương.

Vướng mắc lớn nhất hiện nay cần tháo gỡ chính là nhiều nội dung luật không giao hoặc chưa giao cho chính quyền cấp huyện, xã, nhưng thực tế hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng trên địa bàn cần thiết phải ban hành các VBQPPL về nội dung này để tăng tính chủ động, sáng tạo trong điều kiện đặc thù của từng địa phương. Kiến nghị nên nghiên cứu, sửa đổi Luật Ban hành VBQPPL theo hướng sửa đổi thẩm quyền ban hành VBQPPL cho chính quyền cấp huyện, xã theo hướng mở hơn, không chỉ trong giới hạn những vấn đề được luật giao.

b) Tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Luật về ý kiến đối với  việc “đánh giá tác động của chính sách trong dự thảo Nghị quyết quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Luật này”. Trong quá trình thực hiện quy định này, phạm vi các loại văn bản quy phạm pháp luật cần phải lập đề nghị theo quy định của Luật là quá rộng. Như vậy, “có nhiều nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh chỉ quy định cụ thể về biện pháp tổ chức thi hành văn bản của cấp trên, không quy định chính sách mới, nhưng vẫn phải lập đề nghị xây dựng văn bản, làm hạn chế khả năng phản ứng nhanh của chính quyền địa phương đối với những vấn đề cấp bách của xã hội”. Do đó, cần phải xác định lại cho hợp lý hơn các văn bản phải lập đề nghị xây dựng theo quy trình chính sách.

c) Về ý kiến đối với việc “Người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và cơ quan ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ và tùy theo mức độ mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy định khác của pháp luật có liên quan” trong trường hợp dự thảo văn bản không bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được phân công thực hiện nhưng chưa có quy định cụ thể xác định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong giai đoạn thẩm tra dự án xây dựng văn bản QPPL. Đề nghị bổ sung quy định cụ thể về vấn đề này, đặc biệt là trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân có liên quan trong trường hợp xảy ra sai sót trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

d) Tại Khoản 34 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Khoản 4 Điều 121 Luật 2015): Đề nghị sửa đổi thời hạn thẩm định của Sở Tư pháp thành 10 ngày làm việc để đảm bảo đủ thời gian thẩm định, nhất là trong những trường hợp trùng ngày lễ, tết. Tương tự, đề nghị sửa đổi Khoản 38 (sửa đổi, bổ sung Khoản 4 Điều 130 Luật 2015); Khoản 41 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Khoản 4 Điều 139 Luật 2015) là “10 ngày làm việc” và Khoản 44 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Khoản 3 Điều 148 Luật 2015) là “07 ngày làm việc”.

- Đồng thời, đề nghị bổ sung tại khoản này nội dung như sau: Cơ quan thẩm định không tiến hành thẩm định dự thảo nghị quyết khi chưa đủ các tài liệu trong hồ sơ hoặc hồ sơ gửi không đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều này”. Tương tự, đề nghị bổ sung nội dung này tại Khoản 38 (sửa đổi, bổ sung Điều 130 Luật 2015) đối với trường hợp thẩm định dự thảo quyết định của UBND cấp tỉnh.

đ) Tại Khoản 38 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 130 Luật 2015):

- Tại Khoản 1 Điều 130: Về thời hạn cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ để cơ quan tư pháp thẩm định, đề nghị không quy định thời hạn gửi hồ sơ thẩm định theo hướng “chậm nhất 20 ngày trước ngày UBND họp” như dự thảo. Vì trên thực tế các cơ quan được giao chủ trì soạn thảo không thể xác định cụ thể ngày UBND họp để cơ quan soạn thảo có thể gửi hồ sơ thẩm định đúng thời hạn. Do đó, đề nghị chỉ cần quy định thời hạn cơ quan tư pháp thẩm định hồ sơ là 10 ngày làm việc thì cơ quan chủ trì soạn thảo phải có trách nhiệm gửi hồ sơ đảm bảo thời hạn để cơ quan tư pháp thẩm định. Tương tự, đề nghị sửa đổi nội dung này tại Khoản 1 Điều 121 Luật 2015.

- Tại Khoản 2 Điều 130:

+ Tại Điểm a Khoản 2: Đối với hồ sơ gửi Sở Tư pháp thẩm định, đề nghị cơ quan soạn thảo sửa đổi “Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo quyết định” thành “Dự thảo Tờ trình Ủy ban nhân dân về dự thảo quyết định” vì sau khi có ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp đối với dự thảo thì trong nhiều trường hợp một số nội dung của Tờ trình có thể sẽ thay đổi cho phù hợp với nội dung thẩm định. Tương tự, đề nghị xem xét sửa đổi đối với Điểm a Khoản 2 Điều 121 Luật 2015.

+ Để đảm bảo sự thuận tiện và phù hợp với tình hình thực tế của các địa phương, đồng thời, hiện nay, việc gửi văn bản giữa các cơ nhà nước được thực hiện chủ yếu trên môi trường mạng, do đó, đề nghị không quy định cụ thể hình thức gửi văn bản như tại dự thảo. Tương tự, đề nghị xem xét sửa đổi đối với Khoản 39 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 131 Luật 2015).

e) Tại Khoản 47 Điều 1 dự thảo (sửa đổi, bổ sung Khoản 1 Điều 153 Luật 2015): Đề nghị bổ sung quy định về thời hạn xử lý văn bản bị ngưng hiệu lực tránh trường hợp văn bản đó đã bị ngưng hiệu lực nhưng cơ quan có thẩm quyền chậm xử lý.

f) Ngoài các nội dung trên, đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, tham mưu sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác có liên quan như:

  - Việc quy định dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh và phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết tại Khoản 2 Điều 11 của Luật 2015 (quy định này không phù hợp với thực tiễn, nhất là việc ban hành văn bản của địa phương để quy định chi tiết văn bản của Trung ương).

          - Tại Khoản 2 Điều 155 Luật 2015 chỉ quy định hiệu lực về không gian và đối tượng áp dụng của văn bản QPPL của chính quyền địa phương đối với 03 trường hợp sau: Một đơn vị hành chính được chia thành nhiều đơn vị hành chính mới cùng cấp; nhiều đơn vị hành chính được nhập thành một đơn vị hành chính mới cùng cấp; một phần địa phận và dân cư của đơn vị hành chính được điều chỉnh về một đơn vị hành chính khác. Theo đó, Điều 155 lại không quy định đối với trường hợp toàn bộ đơn vị hành chính được điều chỉnh về một đơn vị hành chính khác cùng cấp. Do đó, để đảm bảo cơ sở cho việc áp dụng trên thực tế, đề nghị cơ quan soạn thảo bổ sung trường hợp nêu trên tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật 2015.

g) Tại Điều 171 Luật Ban hành văn bản QPPL đã nêu việc bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản QPPL và giao cho Chính phủ quy định chi tiêt. Tại Chương X  của Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biên pháp th hành Luật Ban hành văn bản QPPL đã quy định về bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản QPPL (bao gồm nguồn nhân lực và cơ sở vật chất )để thực hiện công tác này. Tuy nhiên, trên thực tế nguồn lực cho hoạt động này được thực hiện chưa thống nhất, nhất là nguồn lực cho cơ quan thẩm định văn bản QPPL của HĐND, UBND các cấp ( cơ quan Tư pháp). Trong khi việc thi hành Luật thì địa phương nào cũng cần phải thực hiện như nhau, không thể bỏ sót quy trình hoặc lĩnh vực nào. Mặt khác, theo quy định  của pháp luậthiện hành, thì tất cả nguồn lực cho hoạt động của bộ máy nhà nước đều do Quốc hội quyết định. Vì vậy đề nghị Luật nên quy định chi tiết việc bảo đảm nguồn lực xây dựng, ban hành văn bản QPPL và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện, thay cho quy định hiện nay là giao cho Chính phủ quy định chi tiết.

3. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư

a) Dự thảo Luật Đầu tư sửa đổi, bổ sung trao rất nhiều quyền cho Chính phủ quy định chi tiết thi hành. Việc dự thảo có nhiều quy định trao quyền hướng dẫn chi tiết cho Chính phủ khiến cho các quy định của Luật mang tính chung chung, các định hướng chính sách trở nên thiếu rõ ràng và sau khi Luật có hiệu lực thi hành phải chờ văn bản hướng dẫn của Chính phủ mới được triển khai thực hiện. Do đó, để hạn chế việc giao quy định chi tiết, dự thảo Luật đầu tư sửa đổi, bổ sung nên quy định chi tiết các Điều mà Luật giao cho Chính phủ quy định chi tiết.

b) Đề nghị nên sửa đổi chế độ báo cáo của nhà đầu tư (Điều 73) theo hướng báo cáo 6 tháng, báo cáo năm và hình thức báo cáo là bằng điện tử nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư và góp phần hiện đại hóa trong cải cách thủ tục hành chính.

4. Đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng

a) Theo quy định tại Điểm e Khoản 2 Điều 68 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL thì mỗi khoản của một điều trong văn bản QPPL phải được thể hiện đầy đủ một nội dung. Tuy nhiên, tại khoản 10 Điều 1 dự thảo (sửa đổi khoản 2 Điều 52 Luật Xây dựng) thì điểm a, b, c, d quy định các trường hợp phải lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng; trong khi đó, điểm đ, e lại quy định nội dung và trình tự lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng. Vì vậy, để đảm bảo kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, đề nghị tách điểm đ và điểm e khoản 2 Điều 52 thành 02 khoản riêng.

          b) Tại khoản 16 Điều 1 dự thảo (sửa đổi khoản 2 Điều 60 Luật Xây dựng) sử dụng cụm từ “vốn đầu tư của nhà nước”. Trong khi đó, tại Khoản 8 Điều 1 dự thảo (sửa đổi khoản 4 Điều 49 Luật Xây dựng) lại sử dụng cụm từ “vốn nhà nước ngoài đầu tư công”. Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu sử dụng cụm từ thống nhất trong cùng một văn bản QPPL.

5. Đối với Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai và Luật Đê điều

5.1. Về nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai

a) Tại Khoản 10 Điều 1 dự thảo: đề nghị chỉnh sửa điểm c khoản 4 Điều 15 theo hướng kế hoạch phòng, chống thiên tai cấp tỉnh phải xác định nội dung và biện pháp phòng, chống thiên tai phù hợp với các cấp độ rủi ro thiên tai và loại thiên tai cụ thể nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai, chú ý khu vực nguy hiểm và đối tượng dễ bị tổn thương, trong đó tập trung xây dựng kế hoạch phòng, chống các loại thiên tai thường xuyên xảy ra và gây thiệt hại lớn cho địa phương. Không quy định liệt kê các kế hoạch phòng chống đối với từng loại thiên tai như trong dự thảo vì mỗi địa phương sẽ chịu ảnh hưởng bởi từng loại thiên tai khác nhau, do đó, nên quy định theo hướng tùy đặc thù của mỗi địa phương để xây dựng nội dung kế hoạch phòng chống thiên tai.

b) Tại Khoản 23 Điều 1 dự thảo: đề nghị chỉnh sửa nội dung tại khoản 3 Điều 44 về Trưởng ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp làm Trưởng ban thành Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cùng cấp làm Trưởng ban để phù hợp và linh hoạt trong quá trình áp dụng.

c) Đề nghị sửa đổi Luật phòng chống thiên tai năm 2013 theo hướng quy định “xác định cấp độ rủi ro thiên tai”, “cấp độ cảnh báo thiên tai”, “trách nhiệm của cơ quan cảnh báo”, “mức độ cảnh báo” để tạo thuận lợi cho lực lượng cơ sở khi triển khai di dời dân khỏi vùng ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt theo quyết định của chính quyền.

d) Cần sớm đưa Đề án “Cung ứng dịch vụ truyền hình về phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai” đi vào thực hiện nhằm xây dựng dịch vụ truyền hình phòng, chống thiên tai, hiểm họa phục vụ cộng đồng trên một kênh truyền hình chuyên biệt, cung cấp kịp thời, chính xác các tin tức thời sự để giúp người dân và cơ quan quản lý phòng, chống có hiệu quả thiên tai, giảm thiểu hậu quả đối với đời sống kinh tế - xã hội.

5.2. Về nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đê điều

a) Tại khoản 6 Điều 2 dự thảo: đề nghị chỉnh sửa cơ quan được giao quy định nội dung đảm bảo thoát lũ, thông thoáng dòng chảy, an toàn đê điều đối với việc xây dựng cầu qua sông có đê từ Thủ tướng Chính phủ thành Chính phủ để phù hợp với chức năng của cơ quan này.

b) Tại khoản 7 Điều 2 dự thảo: đề nghị bỏ cụm từ “buộc chấm dứt hành vi vi phạm” vì nội dung này đã được thể hiện trong biên bản vi phạm hành chính.

          6. Các quy định của pháp luật về xây dựng

a) Đề xuất cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước về xây dựng; sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ các điều kiện đầu tư kinh doanh không còn phù hợp, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp.

b) Đề xuất mở rộng đối tượng công trình miễn giấy phép xây dựng, cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn; đơn giản hóa điều kiện cấp giấy phép xây dựng, hồ sơ cấp giấy phép xây dựng; tăng cường phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng; giảm thời gian cấp giấy phép xây dựng từ 30 ngày xuống còn 20 ngày.

II. NHỮNG VƯỚNG MẮC, HẠN CHẾ CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

1. Một số vướng mắc trong triển khai thi hành Luật Đất đai

          1.1. Thực trạng các quy định pháp luật liên quan về lĩnh vực này:

          Theo quy định tại Điều 53, 54 của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, theo đó được hiểu đại diện Nhà nước có quyền định đoạt số phận pháp lý của các thửa đất theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn.

          Hiện nay, theo quy định tại các Điều 61, 62, 63, 64, 65 của Luật Đất đai năm 2013 thì nhà nước chỉ thu hồi đất trong trường hợp vì mục đích quốc phòng, an ninh; thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai hoặc do chấm dứt việc sử dụng đất theo quy định của pháp luật, tự nguyện trả lại đất hoặc có nguy cơ đe dọa tính mạng con người.

          Đối với trường hợp sử dụng đất để thực hiện các dự án, công trình sản xuất kinh doanh không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất quy định tại điều 61, 62 của Luật Đất đai mà phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì chủ đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật những trường hợp thực hiện các dự án này trên thực tế vần còn gặp những vướng mắc đó là:

          - Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp gặp phải các khó khăn, vướng mắc sau đây:

          + Việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thủ tục còn rườm rà và thời gian thực hiện còn chậm do bị vướng mắc về giá cả theo nguyên tắc định giá phải phù hợp với thị trường nhưng trên thực tế thời gian thực hiện dự án dài thị trường luôn luôn thay đổi nên việc nhận chuyển nhượng các hộ trước và sau có sự chênh lệch giá, nhất là những hộ chây ì nên giá cả bị trượt  dẫn đến so bì gây khiếu kiện, cản trở việc thực hiện dự án vì giá cả xác định để nhận chuyển nhượng bị thay đổi thường xuyên trên thực tế. Trong khi đó các cơ quan tư vấn, Hội đồng định giá đất ở các địa phương thực hiện không kịp thời đến tận từng thửa, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phải chờ đợi, một dự án nhanh nhất để tiếp cận được đất đai củng mất khoảng 03 năm, thậm chí 05 năm vì, thủ tục hành chính từ khi được cấp phép chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có rất nhiều thủ tục như phải đánh giá tác động môi trường, thủ tục đo đạc đất đai, thủ tục thiết kế chi tiết dự án, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục phê duyệt, cấp phép xây dựng các hạng mục công trình, thủ tục đấu giá quyền sử dụng đất, thủ tục về bồi thường thiệt hại khi giải phóng mặt bằng…

          + Có nhiều dự án trên thực tế, các quy hoạch ngành như quy hoạch điện, quy hoạch nông nghiệp, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quy hoạch đô thị, quy hoạch các địa phương triển khai còn nhiều vướng mắc và chưa kịp thời, đồng bộ. Do đó, việc tổng hợp quy hoạch đất đai mất rất nhiều thời gian để điều chỉnh, phê duyệt theo đúng quy định mới có căn cứ để cho giao đất, thuê đất. Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 là cứ 5 năm hai kỳ điều chỉnh nên một số dự án triển khai trong quá trình thu hút đầu tư ở địa phương còn gặp khó khăn do không kịp thời điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất. Việc phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất mất nhiều thời gian do phải lấy nhiều ý kiến của các bộ, ngành, địa phương có liên quan.

          + Trên thực tế, Luật đo đạc bản đồ năm 2018 đã quy định các đơn vị tư vấn thực hiện công tác đo đạc lập bản đồ phải có năng lực theo quy định mới được thực hiện, sản phẩm phải theo một hệ quy chiếu tọa độ Quốc gia VN-2000, nhưng một số đơn vị tư vấn chuyên ngành vẫn chưa nghiêm túc thực hiện xây dựng bản đồ số cùng hệ quy chiếu tọa độ mà còn đo độc lập dẫn đến các sai số khi thiết kế và lập các bản đồ quy hoạch sử dụng đất trong qúa trình tổng hợp quy hoạch các ngành. Nhiều lĩnh vực đầu tư vào điều tra cơ bản nhưng số liệu chưa được lưu trữ, tập trung về một đầu mối nên khó khăn cho việc khai thác của doanh nghiệp và hộ gia đình, cá nhân khi thực hiện dự án, có trường hợp phải đo lại gây tốn kém tăng chi phí đầu tư xã hội, chậm cho việc thực hiện các dự án.

          Những khó khăn nêu trên đang là những lực cản trong quá trình thu hút các nhà đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội.

          1.2. Một số kiến nghị đề xuất

          a) Đối với việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Cần nghiên cứu để điều chỉnh theo hướng thuận lợi, dễ dàng trong quá trình thu hút đầu tư, nhất là những dự án lớn mà quy hoạch trước đây đã duyệt chưa lường hết. Cụ thể, sau 01 năm thực hiện quy hoạch, kế hoạch đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở dữ liệu quy hoạch bản đồ số Quốc gia phân bổ cho các địa phương khi có sự thay đổi, địa phương sẽ cập nhật và báo cáo cho Trung ương, trong đó phải nói rõ lý do cần thiết để điều chỉnh kịp thời. Như vậy, cần nghiên cứu để điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Muốn vậy các địa phương phải xây dựng được đội ngủ lực lượng chuyên gia giỏi về quy hoạch sử dụng đất, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin trong lĩnh vực quy hoạch. Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp Bộ Nội vụ sớm ban hành tiêu chuẩn, chức danh nghiệp vụ về chuyên viên lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của từng cấp: Quốc gia, Tỉnh, Huyện, trong đó phải quy định rõ phải qua khóa bồi dưỡng cập nhật kiến thức và sát hạch về quy hoạch hàng năm; cấp chứng chỉ hành nghề tư vấn về công tác lập quy hoạch sử dụng đất cho các quy hoạch viên do Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm.

          b) Đối với các dự án kinh tế đóng vai trò chiến lược cho sự phát triển của địa phương và vùng, đề nghị sửa đổi Luật theo hướng Nhà nước đứng ra thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, tổ chức đấu giá đất để cho thuê, không nên giao khoán cho doanh nghiệp tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng, thể hiện được vai trò chủ thể quản lý nhà nước đối với đất đai trong phát triển kinh tế - xã hội.

          c) Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn một phương pháp định giá thống nhất đến tận từng thửa để các địa phương áp dụng, không nên có nhiều phương pháp như hiện nay. Cần phải có kinh phí đầu tư thỏa đáng cho công tác định giá đất sát với giá thị trường.

          d) Đề nghị Trung ương tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kịp thời kiến thức về công tác định giá đất sát với giá thị trường cho các địa phương để xây dựng giá đất đến tận từng thửa, xây dựng cơ sở dữ liệu về thông tin giá đất trong toàn quốc đến từng địa phương.

          e) Đề nghị Trung ương tiếp tục cải cách thủ tục hành chính trong việc thu hồi đất, giao đất, thuê đất, định giá đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hướng thuận lợi, dễ dàng cho người dân, kiểm soát được các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu lợi ích nhóm trong lĩnh vực đất đai.

1.3 Các kiến nghị cụ thể trong luật

a) Tại Điều 64 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng. Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có văn bản hướng dẫn đối tượng bị thu hồi theo quy định này. Đặc biệt, pháp luật cần phải làm rõ các trường hợp dự án đã được bàn giao đất từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thì thời gian bị coi là chậm tiến độ được tính toán tại thời điểm nào?

b) Hiện nay, Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định về việc xác định tiền sử dụng đất phải nộp trong trường hợp nhà nước giao đất cho người xin chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp được nhà nước cho thuê sang đất ở (không có quy định về mức nộp và giá đất được xác định là giá đất cụ thể hay giá đất do UBND cấp tỉnh quy định tại Bảng giá đất), do đó các cơ quan khó khăn trong việc xác định mức nộp và giá đất.

c) Theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 8 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất, trường hợp giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất thấp hơn mức thu quy định của pháp luật đất đai năm 1993 thì số tiền đã nộp được quy đổi ra tỷ lệ % diện tích đã hoàn thành việc nộp tiền sử dụng đất theo chính sách và giá đất tại thời điểm đã nộp tiền; phần diện tích đất còn lại thực hiện thu tiền sử dụng đất theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng mức thu tiền sử dụng đất giữa cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất và cơ quan thuế chưa thống nhất.

2. Một số vướng mắc trong triển khai thi hành Luật Đầu tư công

Một số quy định trong Luật Đầu tư công như: công tác thẩm định, phê duyệt chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, thẩm định nguồn vốn và khả năng cân đối vốn, bố trí vốn chưa rõ ràng hoặc chưa đầy đủ nên tình trạng các quy định đã không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn dẫn đến phải điều chỉnh dự án, điều chỉnh kế hoạch, giao vốn nhiều lần, kéo dài thời gian giao vốn, chậm thực hiện dự án; khó theo dõi, đánh giá, kiểm tra kế hoạch, chương trình, dự án.

3. Một số vướng mắc trong triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường

a) Hiện nay, Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chưa đảm bảo tính răn đe, thuyết phục, một số hành vi vi phạm có mức xử phạt còn thấp, nhất là đối với các tổ chức như: hành vi thực hiện không đúng kế hoạch bảo vệ môi trường; xả thải ra môi trường...

b) Tình trạng đổ chất thải xây dựng không đúng nơi quy định xảy ra tương đối nhiều, nhưng trong các văn bản xử phạt về lĩnh vực môi trường, xây dựng (Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và Nghị định số 139/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở) không quy định nên gây khó khăn trong công tác quản lý, xử lý của chính quyền địa phương và các cơ quan, đơn vị liên quan đối với hành vi này. Do đó đề nghị cần có sự thống nhất về quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hai Nghị định đối với các hành vi xả thải vật liệu trong xây dựng không đúng nơi quy định ở mức cao hơn và buộ khắc phục đưa chất thải đến bải thải theo quy định.

c) Hệ thống văn bản pháp luật chưa thống nhất, đồng bộ với nhau, do đó đã làm ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định, như: Tại điểm d khoản 1 Điều 47, điểm đ khoản 1 Điều 59 và điểm d khoản 1 Điều 70 của Luật khoáng sản có quy định thành phần hồ sơ là “Bản cam kết bảo vệ môi trường”. Tuy nhiên, trong Luật Bảo vệ môi trường không có khái niệm cam kết bảo vệ môi trường mà đã được thay thế bằng khái niệm “Kế hoạch bảo vệ môi trường”. Cần sửa đổi để có sự thống nhất của hai Luật.

d) Đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Bộ Nội vụ sớm ban hành tiêu chuẩn chức danh nghiệp vụ về lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường ở cấp chiến lược, các dự án thuộc nhóm A, nhóm B, nhóm C. Hàng năm, tổ chức bồi dưỡng các lợp nghiệp vụ chuyên môn về công tác lập báo cáo đánh giá tác động môi trường cho đội ngũ làm công tác quản lý bảo vệ môi trường ở các địa phương, tổ chức sát hạch kỹ năng, nghiệp vụ của các chuyên viên về môi trường, cấp chứng chỉ hành nghề về công tác bảo vệ môi trường cho các đơn vị tư vấn và người thực hiện nhiệm vụ lập báo cáo đánh giá tác động bảo vệ môi trường.

4. Đối với Luật Khoáng sản:

a) Đề nghị Trung ương phân cấp mạnh cho địa phương vè thẩm quyền quản lý, khai thác khoáng sản đối với vật liệu xây dựng thông thường, không nên có quy định phải xem phép Bộ tài nguyên và Môi trường công bố các quy hoạch khoáng sản nhỏ lẽ trước khi làm các thủ tục về cấp quyền khai thác.

b) Đối với Luật Khoáng sản có quy định việc thăm dò trữ lượng khoáng sản, xác định trữ lượng của mỏ cao nhưng khi cấp giấy phép khai thác chỉ căn cứ vào công suất của dự án nên khác thác không hết trử lượng khoáng sản, phải đóng của mỏ gây lảng phì về tài nguyên, nhưng nộp tiền cấp quyền khai thác khoáng sản thì tính toàn bộ trữ lượng mỏ khi tham gia đấu giá. Quy định này làm tăng chi phí xã hội và gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Vì vậy, đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu quy định về việc gia hạn hoặc điều chỉnh giấy phép khai thác cho doanh nghiệp để được tiếp tục thực hiện dự án được thuận lợi và đạt hiệu quả cao đối với phần trữ lượng còn lại.

5. Một số vướng mắc của pháp luật về kinh doanh bất động sản

- Quy định của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 có nhiều thủ tục, nhiều giấy phép con, gây tốn kém, mất thời gian cho người dân và doanh nghiệp, chưa phù hợp với chủ trương cải cách hành chính của Chính phủ.

- Một số quy định còn bất cập, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp khi thực hiện như: điều kiện của tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản; về việc chuyển nhượng dự án bất động sản; quy định về bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà…

- Cần có quy định rõ chế tài xử lý, kiểm soát chặt chẽ thị trường bất động sản nhằm tránh tình trạng đầu tư tự phát, tạo môi trường bình đẳng, hạn chế tình trạng đầu cơ, kích giá vượt quá khả năng chi trả của đại bộ phận tầng lớp nhân dân.

6. Một số vướng mắc hạn chế trong lĩnh vực quản lý Nhà nước ngành Công thương

a) Lĩnh vực an toàn thực phẩm: Tại Điểu 1, khoản 1 Điều 10, chương IV lĩnh vực kinh doanh thực phẩm, Nghị định số 17/2020/NĐ-CP có nội dung “Cơ sở có đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm phù hợp với từng loại hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo quy định tại mục: 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Chương trình VI của Nghị định này”. Tuy nhiên, tại Chương VI là lĩnh vực kinh doanh khí, vì vậy đề nghị làm rõ và sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

b) Lĩnh vực quản lý thương mại: Tại khoản 2, Điều 5 và khoản 2, Điều 10, Quyết định số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24/9/2004 của Bộ Thương mại (nay là Bộ công thương) về ban hành Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại có nội dung chồng chéo với khoản 1 và khoản 3, Chương I, Quyết định số 4800/QĐ-BTC về việc hướng dẫn và xét công nhận tiêu chí cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn trong bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.

c) Lĩnh vực quản lý Cụm công nghiệp: Theo Luật Quy hoạch có hiệu lực từ ngày 01/01/2019, quy hoạch phát triển Cụm công nghiệp cấp tỉnh tiếp tục được xây dựng, quản lý thực hiện dưới hình thức phương án phát triển cụm công nghiệp và tích hợp trong quy hoạch tỉnh. Tuy nhiên để triển khai, thực hiện, đề nghị Bộ Công Thương sớm bổ sung, sửa đổi Nghị định số 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 của Chính phủ về quản lý, phát triển Cụm công nghiệp và Thông tư số 15/2017/TT-BTC ngày 31/8/2017 về hướng dẫn thực hiện Nghị định.